Một số xét nghiệm chức năng bài tiết và khử độc trong kiểm tra chức năng gan

2016-12-20 16:29:08 Phòng Khám Kim Mã

Khoảng 15-20% dân số Việt Nam mắc các bệnh về gan,trong đó có thể có bạn!

Trong các hạng mục kiểm tra chức năng gan, có một hạng mục khá quan trọng đó là kiểm tra khảo sát chức năng bài tiết và khử độc. Bài viết sau đây sẽ giới thiệu về hai xét nghiệm nổi bật trong hạng mục kiểm tra này.

KIỂM TRA NỒNG ĐỘ BILIRUBIN HUYẾT THANH

Bilirubin là sản phẩm chuyển hóa của hemoglobin và các enzyme có chứa hem. 95% bilirubin được tạo ra từ sự thoái biến của hồng cầu.

Bilirubin toàn phần bao gồm hai thành phần là bilirubin gián tiếp (GT) và bilirubin trực tiếp (TT).

Bilirubin GT là gì? Bilirubin GT còn được gọi là bilirubin tự do, có thể tan trong mỡ, gắn kết với albumin huyết tương nên không được lọc qua cầu thận. Khi đến gan, bilirubin GT được kết hợp với acid glucuronic để trở thành bilirubin TT.

Bilirubin TT là gì? Bilirubin TT còn được gọi là bilirubin liên hợp,có thể tan được trong nước và được bài tiết chủ động vào các tiểu quản mật.

Bilirubin toàn phần bao gồm hai thành phần là bilirubin gián tiếp (GT) và bilirubin trực tiếp (TT)

Các giá trị bình thường của bilirubin:

  • Bilirubin toàn phần (TP): 0,8–1,2 mg/dL (5-17 mmol/L)
  • Bilirubin gián tiếp (GT) 0,6 – 0,8 mg/dL
  • Bilirubin trực tiếp (TT) 0,2 – 0,4 mg/dL (chiếm 30% bilirubin TP).

Vàng da chỉ biểu hiện khi bilirubin TP tăng > 2,5 mg/dL. Cần phải phân biệt vàng da do tăng bilirubin GT hoặc bilirubin TT để chẩn đoán nguyên nhân:

Nếu là do tăng bilirubin GT (thuờng < 15 mg/dL): hiếm khi là do bệnh gan, có thể do tăng sự sản xuất bilirubin (tán huyết, tạo hồng cầu không hiệu quả, tái hấp thu từ khối máu tụ) hoặc do giảm sự bắt giữ bilirubin tại tế bào gan (hội chứng Gilbert) hoặc giảm sự liên hợp bilirubin do bị thiếu men glucuronyl transferase (hội chứng Crigler-Najjar).

Nếu là do tăng bilirubin TT: có liên quan đến bệnh lý về gan mật, có thể do giảm bài tiết bilirubin vào tiểu quản mật hoặc do bị ứ mật trong gan hay ngoài gan. Trên lâm sàng, nhiều khi rất khó phân biệt giữa tình trạng ứ mật trong gan (viêm gan, xơ gan, xơ gan ứ mật nguyên phát) với tắc nghẽn đường mật ngoài gan (sỏi đường mật, ung thư đường mật, viêm đường mật xơ hóa nguyên phát, ung thư đầu tụy). Nguyên nhân ứ mật có thể là do các bệnh di truyền hiếm gặp (hội chứng Dubin-Johnson, hội chứng Rotor) hoặc do các nguyên nhân mắc phải (thuốc, sỏi mật). Khi bilirubin TT tăng cao, có một phần bilirubin sẽ gắn với albumin huyết tương nên không thể bài tiết được qua nước tiểu. Vì thế, tình trạng vàng da thường giảm chậm hơn sau khi nguyên nhân gây tắc mật đã được xử lý. Phần bilirubin còn lại không gắn với albumin sẽ được bài tiết qua nước tiểu nên có thể hạn chế được sự tăng bilirubin quá mức.

KIỂM TRA NỐNG ĐỘ PHOSPHATASE KIỀM ALP

ALP là gì?

ALP (alkalin phosphatase) là enzyme thủy phân các ester phosphat trong môi trường kiềm (pH = 9). Nguồn gốc chủ yếu của ALP là gan và xương. Ở ruột, thận và nhau thai thì ALP ít hơn. Bình thường ALP khoảng 25 - 85 U/L hoặc 1,4 - 4,5 đơn vị Bodansky hoặc 1,5 - 4,5 đơn vị King Armstrong.

Phân tử ALP (alkalin phosphatase)

Men ALP là xét nghiệm rất nhạy để phát hiện có tắc nghẽn đường mật hay không. Sự tăng ALP trong bệnh cảnh tắc mật là do đáp ứng của tế bào gan và tế bào biểu mô ống mật tăng sự tổng hợp enzyme này chứ không hẳn là do sự trào ngược men vào trong máu hoặc do giảm sự thải trừ ALP đang lưu hành. Vì được tổng hợp để đáp ứng với tình trạng tắc mật, nên ALP có thể bình thường trong giai đoạn đầu của viêm mưng mủ đường mật cấp tính, trong khi các men transaminase đã tăng lên. Acid mật tăng cũng sẽ gây kích thích tổng hợp ALP. ALP có thời gian bán hủy khoảng 7 ngày cho nên sự tăng ALP có thể kéo dài trên 1 tuần sau khi tình trạng tắc mật đã giảm và khi bilirubin đã trở về bình thường. Tăng ALP do nguyên nhân ở gan thường đi kèm với sự gia tăng của men GGT và 5’-nucleotidase. Khi ALP tăng đơn thuần có thể là một dấu hiệu của các bệnh gan do thâm nhiễm như ung thư, u hạt, áp xe, thoái hóa dạng bột.

xem thêm: tanganil

ALP tăng nhẹ và vừa (gấp hai lần bình thường) có thể gặp trong bệnh viêm gan, xơ gan, di căn hoặc thâm nhiễm ở gan (bệnh bạch cầu, sarcoidosis, lymphoma). ALP tăng cao (từ 3-10 lần bình thường) thường do tắc mật trong hoặc ở ngoài gan. ALP có thể tăng sớm ngay cả khi tắc mật không hoàn toàn, lúc đó bilirubin máu có thể vẫn còn bình thường hoặc tăng nhẹ. Một khi ALP bình thường, sẽ ít nghĩ đến nguyên nhân do tắc mật.

ALP cũng không đặc hiệu cho tổn thương gan vì chỉ số này còn tăng trong các bệnh ngoài gan như bệnh Paget của xương, nhuyễn xương, hủy xương, di căn xương, tăng PTH và một số bệnh ác tính khác. Khác với ALP có nguồn gốc từ xương, các isoenzyme ở gan bền với nhiệt độ (56 độ C/15’) đồng thời có thể điện di để tách các isoenzyme này. ALP còn tăng trong trường hợp bị tắc ruột non hoặc trong các điều kiện sinh lý như có thai, giai đoạn tăng trưởng xương ở trẻ em. ALP thấp có thể gặp trong trường hợp suy giáp, thiếu máu ác tính, giảm ALP bẩm sinh, giảm chất kẽm và sự bùng phát của bệnh Wilson.

Tags:

Phòng khám gan

HÃY ĐỂ CHUYÊN GIA TƯ VẤN CHO BẠN

Chúng tôi luôn mong muốn bênh nhân thuận tiện và được tư vấn trong thời gian phản hồi nhanh nhất. Hãy phản hồi cho chúng tôi để chúng tôi có thê phục vụ bạn tốt nhất

Ý kiến bạn đọc (hãy để lại số điện thoại đê chúng tôi tư vấn cho bạn)

Bài viết liên quan khác

  • Bảng giá xét nghiệm Phòng khám Gan Kim Mã (phần 2)

    BẢNG GIÁ DỊCH VỤ KHÁM BỆNH PHÒNG KHÁM GAN KIM MÃ (PHẦN 2) (Khám bệnh theo yêu cầu) Đơn giá: Vnđ     Giám đốc: Nguyễn Thị Huyền Trang

  • Kiểm tra chức năng gan định kỳ hết sức cần thiết

    Đứng trước cuộc sống hiện đại nhưng không ngừng công nghiệp hóa này, con người luôn phải đối mặt với những nguy cơ như ô nhiễm môi trường, thực phẩm độc hại, nhiễm hóa chất... Đây chính là những nguy cơ nguy hiểm thường trực…

  • Xét nghiệm viêm gan C bao nhiêu tiền?

    Bệnh viêm gan C  là bệnh do virus viêm gan C tấn công vào lá gan của chúng ta. Trên thế giới có khoảng 350.000 người tử vong vì căn bệnh này hàng năm. Bệnh viêm gan C lây truyền chủ yếu qua đường máu…

  • Chẩn đoán hình ảnh sỏi thận ở đâu chính xác?

    Với sự phát triển của y học, hiện nay có rất nhiều phương pháp xét nghiệm giúp xác định được sự hiện diện của soi thận, vị trí của nó cũng như các tác hại của nó đối với hệ niệu. Vậy chẩn đoán hình ảnh sỏi thận ở đâu tốt?

  • Chỉ số men gan phản ánh tình trạng của gan

    Có bốn loại men gan, bao gồm: AST, ALT, GGT, AP. Trong đó, hai loại men gan AST (Aspart transaminase) và ALT (Alanin transaminase) có vai trò tương đối quan trọng trong việc phản ánh tình trạng của gan.

Phòng khám kim mã